64 Quẻ Kinh Dịch

Dưới đây là 64 Quẻ Dịch trong cuốn Yếu Lược Toàn Thư của thầy Thuận Thiên Ẩn Sĩ - Trung Tâm Đào Tạo Phong Thủy Sư

Quẻ 1: Thiên Vi Càn

Kiện dã. Chính yếu. Cứng mạnh, khô, lớn, khỏe mạnh, đức không nghỉ. Nguyên Khang Hanh Lợi Trinh chi tượng: tượng vạn vật có khởi đầu, lớn lên, toại chí, hóa thành.

Càn tượng trưng cho trời và năng lực sáng tạo. Tất cả các vạch đều là vạch liền, tức vạch dương, ý nghĩa là tất cả các đơn quái liên kết để hợp thành trùng quái này, cả quẻ chủ lẫn quẻ hỗ, đều là Càn. Đó là tột đỉnh của dương lực. Càn là ánh sáng, sự mạnh mẽ, tích cực, đồng thời còn mang hàm ý sự hành động và sự bền gan, trì chí. Nói rộng ra, Càn đại diện cho vũ trụ đang biến dịch không ngừng.

Do đó, Càn cũng hàm ý sự mô phỏng con đường của trời, con đường cần cù trong suốt cả ngày, và con đường của sự nỗ lực không ngừng lẫn sự chăm chỉ, siêng năng. Kinh Dịch tìm cách áp dụng các nguyên lý của trời đất vào công việc và hành xử đạo đức của con người. Càn thay cho con đường của trời, còn quẻ kế tiếp, Khôn, giải thích con đường của đất. Cả hai, trời và đất, đứng đầu trong Kinh Dịch.

Càn tượng trưng cho sự sung thịnh của vạn vật, khỏe mạnh, tráng kiện và sum suê. Nhưng đang giữa sự cực dương thì âm tất sẽ nảy sinh. Do đó, lời khuyên là nên thật cẩn thận. Biết lưu ý sẽ tránh được điều bất ngờ và sự cố.

Quẻ 2: Địa Vi Khôn

Thuận tòng, mềm dẻo, theo đường mà được lợi, hòa theo lẽ, chịu lấy. Nguyên Hanh Lợi Trinh chi tượng.

Quẻ Khôn tượng trưng cho đất và đại diện cho ý tưởng sản sinh, dịu hiền, phục tùng và vâng lời. Quẻ tượng trưng cho bóng tối và thuộc về người mẹ.

Khôn là đối lập của Càn (quẻ nói trên); sáu hào đều âm, tức các vạch đứt. Lực dương tượng trưng cho sự cho, tính cách hay khuynh hướng mạnh mẽ hoặc cứng rắn, chuyển động tích cực hay sự tiến bộ, trong khi lực âm tượng trưng cho sự nhận, phục tùng, tiêu cực và thụ động. Do đó, khi gieo được quẻ này, bạn cũng nên biết mềm mỏng giống như con lừa hay ngựa cái, thực hiện bổn phận hay hoàn thành vai trò của mình, và lắng nghe cũng như đi theo lời khuyên của các bậc trên trước của mình. Bằng cách này, thông qua kiên định, các triển vọng của bạn sẽ mở ra trong tương lai gần.

Quẻ 3: Thủy Lôi Truân

Nạn dã. Gian lao. Yếu đuối, chưa đủ sức, ngần ngại, do dự, vất vả, phải nhờ sự giúp đỡ. Tiền hung hậu kiết chi tượng: trước dữ sau lành.

Trên là nước, dưới là sấm nổi dậy, vạn vật sinh nở (đầu mùa xuân sấm dậy). Dương có đầy đủ 2 quẻ trên dưới, nhưng ở dưới thì mới sinh, ở trên thì bị kẹt, ở giữa nên còn non dại và gian khổ.

Truân tượng trưng cho sự bắt đầu của vạn sự vạn vật. Cũng giông như những mầm chồi non yếu ớt và không thể chống chọi được với mưa rào và gió mạnh. Tình huống mới bắt đầu đầy gian khổ, khó khăn và trở ngại.

Quẻ 4: Sơn Thủy Mông

Muội dã. Bất minh. Tối tăm, mờ ám, không minh bạch, che lấp, bao trùm, phủ chụp, ngu dại, ngờ nghệch. Thiên võng tứ trương chi tượng: tượng lưới trời giăng bốn mặt.

Mông tượng trưng cho tuổi trẻ thiếu kinh nghiệm với những cách nhìn chưa thấu suốt, và trí khôn hoặc hiểu biết hãy còn non kém. Tuy nhiên, những thanh niên này thu thập được sự nhạy bén, trí khôn và kiến thức thông qua sự chỉ bảo và dẫn dắt. Khi khảo sát hình tượng của quẻ này, chúng ta sẽ thấy rằng phần nửa trên, đơn quái Cấn tượng trưng cho những ngọn núi, còn nửa dưới, đơn quái Khảm, tiêu biểu cho nước. Nước trở thành sương hay giá khi bốc hơi, bao phủ hoặc che lấp mất núi, làm cho người ta không thể phân biệt được diện mạo hay hình dáng đích thực của núi.

Do đó, Mông hàm ý sự dốt nát, ngu muội, vô tâm, mơ hồ, và thậm chí vô ý thức. Vạn vật đều đang ở trong một bức màn sương mù dày đặc, đầy dẫy sự dò dẫm và kém phát triển.

Bạn phải hết sức nỗ lực và biết lắng nghe cũng như tuân theo sự chỉ dạy, dẫn dắt của người khôn ngoan, thông thái và đạo đức. Nếu được như vậy, tất cả sẽ dần dần chuyển biến tốt đẹp hơn.

Quẻ 5: Thủy Thiên Nhu

Thuận dã. Tương hội. Chờ đợi vì hiểm đằng trước, thuận theo, quây quần, tụ hội, vui hội, cứu xét, chầu về. Quân tử hoan hội chi tượng: quân tử vui vẻ hội họp, ăn uống chờ thời.

Nhu có nghĩa là chờ đợi. Hạ quái (quẻ dưới) là Càn, tượng trưng cho sự khang kiện, tích cực và năng nổ. Thượng quái (quẻ trên) là Khảm, tiêu biểu cho sự nguy hiểm, do đó gây cản trở cho sự hoạt động, hoạt bát, sôi nổi và hành sự của Càn. Càn là Trời, bầu trời to lớn thế, chứa cả vạn vật mà lại chịu nằm ở dưới Thủy, ấy chính là sự Nhu( mềm lại, khiêm lại).

Quẻ Nhu hàm ý người ta cần tránh sự nguy hiểm gây ra bởi tinh thần cấp tiến cực đoan và thái độ quá chăm chăm tiến về phía trước, bằng cách chờ đợi nhẫn nại bằng lòng tự trọng và kỷ luật tự giác cho đến khi thời cơ may mắn hơn, tốt đẹp hơn xảy đến trước khi tiến bước về phía trước. Ý nghĩa chung là hãy chờ đợi hoặc chờ đến thời của mình.

Quẻ 6: Thiên Thủy Tụng

Luận dã. Bất hòa. Bàn cãi, kiện tụng, bàn tính, cãi vã, tranh luận, bàn luận. Đại tiểu bất hòa chi tượng: lớn nhỏ không hòa.

Tụng có nghĩa là sự kiện tụng, tranh chấp, mang việc gì đó ra tòa, và cãi cọ. Đơn quái trên là Càn, tượng trưng cho sự cường tráng của dương, và hàm ý sự tiến bộ cũng như vận động đi lên. Đơn quái dưới là Khảm, tiêu biểu cho nước. Nước chảy từ cao xuống thấp.

Do đó, hai đơn quái này đôi nghịch lẫn nhau.

Thêm nữa, Càn cai quản hoặc chỉ dẫn cho người dưới thông qua quyền hạn. Trong khi Khảm, chống đối lại bên trên thông qua những phương tiện ranh ma, vòng vèo. Do đó, quẻ này có ý nói rằng mọi việc thật là phức tạp, đầy những tranh chấp, trở ngại và xung đột.

Đây không phải là một quẻ cát.

Quẻ 7: Địa Thủy Sư

Chúng dã. Chúng trợ. Đông chúng, vừa làm thầy, vừa làm bạn, học hỏi lẫn nhau, nắm tay nhau qua truông, nâng đỡ. Sĩ chúng ủng tòng chi tượng: tượng quần chúng ủng hộ nhau.

 tượng trưng cho đạo quân binh và đám đông, và được gắn liền với ý tưởng chiến tranh hay đấu tranh. Vạch thứ hai tính từ dưới lên là vạch liền, tức hào dương, tiêu biểu cho vị đại tướng đang chỉ huy hay dẫn dắt năm hào âm. Thượng quái là Khôn, đất; hạ quái là Khảm, tượng trưng cho nước. Khi nước nằm trên đất, nó gây ẩm ướt và làm phong phú cho vạn vật, nhưng ở quẻ này vị trí thích hợp đó đã bị đảo lộn. Đất nằm trên nước. Cả hai không thể song hành hòa hợp với nhau được.

Trong đoán quẻ, quẻ này có nghĩa là sự đấu tranh, tranh cãi, bất hòa, khó khăn, rắc rối và hỗn loạn.

Quẻ 8: Thủy Địa Tỷ

Tư dã. Chọn lọc. Thân liền, gạn lọc, mật thiết, tư hữu riêng, trưởng đoàn, trưởng toán, chọn lựa. Khứ xàm nhiệm hiền chi tượng: bỏ nịnh dụng trung.

Tỷ tượng trưng cho sự gần gũi, thân thiết. Hào thứ năm đếm từ dưới lên, hào chủ, là hào dương. Hào dương này khẳng định mình trước tất cả các hào âm (vạch đứt) khác. Thượng quái Khảm tượng trưng cho nước và hạ quái Khôn tượng trưng cho đất. Khi nước chảy tràn khắp mặt đất, nó thấm vào trong đất và trở thành một với bùn đất, đồng thời cồn trộn lẫn và liên kết với nhau. Đó là dấu hiệu cát tường của việc trời yêu thương và nuôi dưỡng con người, khi trên và dưới hòa hợp, thân thiết và giúp đỡ cho nhau.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa là việc tiếp xúc với người khác sẽ diễn ra tốt đẹp và mọi việc sẽ được thực hiện suôn sẻ.

Quẻ 9: Phong Thiên Tiểu Súc

Tắc dã. Dị đồng. Lúc bế tắc, không đồng ý nhau, cô quả, súc oán, chứa mọi oán giận, có ý trái lại, không hòa hợp, nhỏ nhen. Cầm sắt bất điệu chi tượng: tiếng đàn không hòa điệu.

Tượng của quẻ này là thời tiết, lúc những đám mây dày đặc đã xuất hiện nhưng chưa có mưa. Quẻ thượng là Tốn, tượng trưng cho gió và mây. Quẻ hạ là Càn, tức bầu trời. Khi gió và mây ngự trị trên bầu trời, thời tiết thật oi ả, u ám, như thể trời sắp mưa nhưng chưa thật sự mưa. Nhìn một bầu trời như vậy người ta cảm thấy lo lắng, không an tâm.

 

Quẻ 10: Thiên Trạch Lý

 Lễ dã. Lộ hành. Nghi lễ, có chừng mực, khuôn phép, dẫm lên, không cho đi sai, có ý chặn đường thái quá, hệ thống, pháp lý. Hổ lang đang đạo chi tượng: tượng hổ lang đón đường.

tượng trưng cho việc bước sau đuôi con hổ nhưng không gặp bất kỳ nguy hiểm nào. Quẻ thượng là Càn và quẻ hạ là Đoài. Quẻ này thể hiện bức tranh một người đàn ông tráng kiện và khỏe mạnh Càn đang đi trước, có người phụ nữ yếu đuối, thanh nhã Đoài đang bước theo sau. Thật khó cho cô ấy để không bị rơi lại phía sau. Lý cũng có nghĩa là lễ độ hay lịch sự. Đơn quái Đoài với đức tính hiền lành và nhu mì, đang nhận được sức mạnh và sự tráng kiện của Càn.

Vì lẽ đó, dù có sự nguy hiểm trong việc bước đi sau đuôi một con hổ, nhưng vẫn an toàn.

Ý nghĩa của quẻ này là dù có những khó khăn và trở ngại, nhưng với thái độ hòa nhã, mềm mỏng và nhân hậu sẽ giúp bạn an toàn vượt qua được trở ngại và gặp điều tốt lành.

Quẻ 11: Địa Thiên Thái

Thông dã. Điều hòa. Thông hiểu, am tường, hiểu biết, thông suốt, quen biết, quen thuộc. Thiên địa hòa xướng chi tượng: tượng trời đất giao hòa.

Thái tượng trưng cho sự bình an và hòa hợp. Đơn quái trên là Khôn tượng trưng cho đất, còn đơn quái dưới tượng trưng cho trời. Lực âm của Khôn thì thấm xuống còn lực dương của Càn thì đi lên. Điều này có nghĩa rằng các lực của trời và đất, âm và dương đang quân bình, xứng hợp và hòa hợp – thống nhất với nhau. Kết quả là vạn vật phát triển và sinh sôi nảy nở sung thịnh.

Trong đoán quẻ, Thái là quẻ cát tường, nói lên sự bình an và vận may.

Quẻ 12: Thiên Địa Bỉ

Tắc dã. Gián cách. Bế tắc, không thông, không tương cảm nhau, xui xẻo, dèm pha, chê bai lẫn nhau, mạnh ai nấy theo ý riêng. Thượng hạ tiếm loạn chi tượng: trên dưới lôi thôi.

 tượng trưng cho sự trở ngại hay bế tắc. Đây là quẻ đối của quẻ trên (quẻ Thái). Đơn quái trên là Càn, tức trời, và lực dương cường kiện của nó đang bị đẩy đi lên. Đơn quái dưới, Khôn, tức đất, và lực âm của nó đang bị đè hướng xuống dưới. Các lực của trời và đất, âm và dương, đang bị cách trở và ngăn chặn. Giữa hai lực chẳng có sự chuyển động giao hòa với nhau. Trong đoán quẻ, Bĩ tượng trưng cho sự gian nan, vất vả và cam go. Thêm nữa, bạn sẽ chẳng nhận được sự giúp đỡ nào của người khác.

Trong quản lý, Bĩ có nghĩa là không có sự thống nhất hay đồng cảm giữa cấp trên và cấp dưới. Cảm nghĩ của cấp dưới đã không được cấp trên thấu hiểu, và các chính sách của cấp trên không nhận được sự ủng hộ của cấp dưới.

Quẻ 13: Thiên Hỏa Đồng Nhân

Thân dã. Thân thiện. Trên dưới cùng lòng, cùng người ưa thích, cùng một bọn người. Hiệp lực đồng tâm chi tượng: tượng cùng người hiệp lực.

Đồng nhân tượng trưng cho sự cùng một khuynh hướng, hòa hợp, đồng lòng, tình bằng hữu, và tình huynh đệ. Nó có nghĩa rằng người ta có thể vững kết đồng tâm với người khác – hợp tác và hòa hợp trong các nỗ lực. Cũng có nghĩa là bằng hữu, đồng chí, đồng nghiệp, đồng sự hay bạn đồng hành. Đơn quái trên là Càn, tức trời, trong khi đơn quái dưới là Ly, tức lửa. Cả hai đều có đặc tính là vận động đi lên. Các hào hai, ba và bốn từ dưới đếm lên tạo thành hỗ quái đơn là Tốn, tượng trưng cho gió. Nhờ có thêm gió thổi, lửa sẽ bốc cao mạnh mẽ, tiến sát đến trời ở trên cao và tỏa ra sự rực rỡ.

Quẻ tiêu biểu cho các mối quan hệ với người khác, và tượng trưng cho việc sẽ thành công nhờ sự giúp đỡ hay hợp tác với người khác.

Quẻ 14: Hỏa Thiên Đại Hữu

Khoan dã. Cả có. Thong dong, dung dưỡng nhiều, độ lượng rộng, có đức dầy, chiếu sáng lớn. Kim ngọc mãn đường chi tượng: vàng bạc đầy nhà.

Đại hữu tiêu biểu cho sự dồi dào, phong phú, giàu sang, phú dật. Đơn quái trên là Ly, tượng trưng cho mặt trời. Đơn quái dưới là Càn, tức trời. Mặt trời nằm trên cao, tỏa ánh sáng xuống vạn vật. Quẻ Ly cũng tượng trưng cho mùa hè, lúc vạn vật đang sung thịnh. Quẻ dưới tượng trưng cho mùa thu, lúc vạn vật đã đạt đến mức viên mãn và thời gian thu hoạch đã đến, ám chỉ  sự dồi dào, phong phú và thịnh vượng.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng bạn đang ở vào lúc cực kỳ may mắn. Nhưng sau khi đạt đến đỉnh thịnh thì sự suy tàn sẽ đến. Do đó, phải cẩn thận, khôn khéo, và biết dè chừng. Không nên kiêu mãn.

Quẻ 15: Địa Sơn Khiêm

Thoái dã. Cáo thoái. Khiêm tốn, nhún nhường, khiêm từ, cáo thoái, từ giã, lui vào trong, giữ gìn, nhốt vào trong, đóng cửa. Thượng hạ mông lung chi tượng: tượng trên dưới hoang mang.

Khiêm nghĩa là nhún nhường và khiêm tốn. Đơn quái trên là Khôn, tượng đất. Đơn quái dưới là Cấn, tượng núi. Dãy núi cao khom mình và trú ngụ bên dưới dồng bằng mênh mông, tiêu biểu cho đức hạnh khiêm tốn và nhún nhường. Khiêm cũng có nghĩa là tặng phần dư dả của mình cho người thiếu thốn. Ý tưởng chính là chuyển đất tơi của một ngọn núi cao đến lấp chỗ trũng thấp.

Trong đoán quẻ, nó có nghĩa rằng vận may và sự thịnh đạt sẽ đến nếu biết giữ gìn sự khiêm tốn và chân thật trong hành động.

Quẻ 16: Lôi Địa Dự

Duyệt dã. Thuận động. Dự bị, dự phòng, canh chừng, sớm, vui vầy. Thượng hạ duyệt dịch chi tượng: tượng trên dưới vui vẻ.

Dự có nghĩa là trước hay sớm, và ẩn chứa những ý như sự báo trước, biết trước và sự chuẩn bị. Đơn quái trên là Chấn, tượng sấm chớp, còn đơn quái dưới là Khôn, tức đất. Sau cơn sấm chớp, mùa xuân hiện ra trên trái đất, mặt trời sẽ chiếu ánh nắng xuống vạn vật. Cây, cỏ và hoa sẽ được ban cho sức sống, và chúng sẽ đâm chồi, nảy lộc. Cảnh tượng thật hạnh phúc và vui vẻ. Đối với con người, đó cũng là lúc để chuẩn bị cho công việc mới, hành động mới.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa là niềm vui và sự lạc quan đang đến. Nhưng cũng phải có những sự chuẩn bị trước thật cẩn thận, và thận trọng đi tới, không bao giờ được phép lơ là. Bằng cách này, sẽ giữ vững được vận may; bằng không, tai họa sẽ ập đến.

Quẻ 17: Trạch Lôi Tùy

Thuận dã. Di động. Cùng theo, mặc lòng, không có chí hướng, chỉ chiều theo, đại thể chủ việc di động, thuyên chuyển như chiếc xe. Phản phúc bất định chi tượng: loại không ở cố định bao giờ.

Tùy có nghĩa là đi theo, vâng lời, đồng nhất, và tháp tùng. Sự việc sẽ tuân theo sắp đặt, khi ta chủ động – phương án mình đưa ra được người khác hưởng ứng, khi ta đang bị động – ta phải theo sách lược của người, không nên chống chế. Quẻ cũng hàm ý sự vâng theo những thăng trầm của số phận và những biến dịch do thời gian mang đến. Đơn quái trên là Đoài, tiêu biểu cho các cô gái trẻ, trong khi đơn quái là Chấn dưới tượng trưng cho những nam nhân tráng kiện. Toàn quẻ ám chỉ người đàn ông tráng kiện đó đang cung phụng và chiều chuộng cô gái trẻ. 

Cùng theo, mặc lòng, không có chí hướng, chỉ chiều theo, đại thể chủ việc di động, thuyên chuyển như chiếc xe

Trong đoán quẻ, Tùy tượng trưng cho cái cương kiện đang phục tùng theo cái âm nhu, do đó giành được sự sẵn lòng phục tùng của mọi người và thành công trong công việc.

Quẻ 18: Sơn Phong Cổ

Sự dã. Sự biến. Có sự không yên trong lòng, làm ngờ vực, khua, đánh, mua chuốc lấy cái hại, đánh trống, làm cho sợ sệt, sửa lại cái lỗi trước đã làm. Âm hại tương liên chi tượng: điều hại cùng có liên hệ.

Cổ tượng trưng cho thức ăn nằm trên đĩa, đã bị hư thối, và trở thành nơi sinh sống của dòi bọ. Quẻ ám chỉ sự hỗn độn, thối rữa, mục nát, hoang tưởng, phế thải và hỏng hóc. Đơn quái trên cấn tiêu biểu những ngọn núi, trong khi đơn quái dưới Tốn tượng trưng cho gió. Gió đang nằm bên dưới núi – bị ngăn chặn bởi núi, gió không thể lưu chuyển được. Nếu không khí không thể lưu thông và di chuyển, mọi vật sẽ bắt đầu thối rữa và làm mồi cho sâu.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng tình hình chung quanh cực kỳ rối loạn và phức tạp. Phải dụng công để dọn dẹp ngăn nắp hay duy trì trật tự – bằng không bạn sẽ gặp thất bại. Việc dọn sạch sự thôi rữa có thể dẫn đến thành công trong việc thay đổi vận hạn của mình. 

Quẻ 19: Địa Trạch Lâm

Đại dã. Bao quản. Việc lớn, người lớn, cha nuôi, vú nuôi, giáo học, nhà sư, kẻ cả, dạy dân, nhà thầu. Quân tử dĩ giáo tư chi tượng: người quân tử dạy dân, che chở, bảo bọc cho dân vô bờ bến.

Lâm có nghĩa là mở rộng, gia tăng, tiến bộ. Hai hào dưới cùng của quẻ này là những hào dương và có nghĩa rằng lực dương đang tăng trưởng, bành trướng, mở rộng, trong khi lực âm đang từ từ thoái lui hay nhường bước. Quẻ này cũng hàm ý sự giúp đỡ hay tin tưởng vào kỳ vọng của nhau.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng nếu xử lý mọi việc với thái độ nhường nhịn và hợp tác, cư xử với người khác phù hợp với qui tắc đạo đức đúng đắn, bạn sẽ hưởng được rất nhiều vận may.

Quẻ 20: Phong Địa Quán

Quan dã. Quan sát. Xem xét, trông coi, cảnh tượng xem thấy, thanh tra, lướt qua, sơ qua, sơn phết, quét nhà. Vân bình tụ tán chi tượng: tượng bèo mây tan hợp.

Quán nghĩa là quan sát, suy xét, trầm tư suy nghĩ, ngẫm nghĩ và tự kiểm thảo. Đơn quái trên là Tốn (gió) và đơn quái dưới là Khôn (đất). Toàn quẻ tượng trưng cho cơn gió lớn đang thổi trên mặt đất. Do đó, đây là thời điểm cho sự vận động – lúc lắc và run rẩy – và cho sự tiến tới cẩn thận.

Trong chiêm quái, quẻ gợi ý nên giữ gìn tình trạng hiện tại một cách bình tĩnh và khách quan. Có thể đạt được biến chuyển thông qua suy ngẫm, quán xét và tự kiểm thảo.

Quẻ 21: Hỏa Lôi Phệ Hạp

Khiết dã. Cấn hợp. Cẩu hợp, bấu víu, bấu quào, dày xéo, đay nghiến, phỏng vấn, hỏi han (học hỏi). Ủy mị bất chấn chi tượng: tượng yếu đuối không chạy được.

Phệ hạp có nghĩa là đôi môi khép trở lại với nhau sau khi cắn hay nhai cái gì đó. Các hào dương ở dưới cùng và trên cùng tượng trưng cho đôi môi. Các hào âm hai, ba và năm là răng. Hào bốn, hào dương, bị kẹp ở giữa giống như nó là vật gì đó đang bị nhai hay cắn. Sau khi vật đó đã được cắn xong, đôi môi khép vào nhau trở lại.

Trong chiêm quái, quẻ hàm ý các trở ngại đang chắn trên đường, nhưng có thể đạt được mục tiêu nếu trở ngại đó được gỡ bỏ hay vượt qua – bị phá hủy giống như việc nhai nhỏ cái gì đó thành nhiều mảnh.

Quẻ 22: Sơn Hỏa Bí

Sức dã. Quang minh. Trang sức, sửa sang, trang điểm, thấu suốt, rõ ràng. Quang minh thông đạt chi tượng: quang minh, sáng sủa, thấu suốt.

 nghĩa là trang trí, trang sức, những màu sắc đẹp, diện mạo hay phong thái đẹp, lịch sự, những đồ trang sức, trang hoàng và trang điểm. Tượng của đơn quái Cấn ở trên là ngọn núi. Tượng của đơn quái Ly ở dưới là mặt trời. Do đó, quẻ này tượng trưng cảnh mặt trời đang khuất sau rặng núi phía tây. Toàn bộ là một cảnh tượng hết sức thi vị và đầy hoan hỉ của lúc mặt trời lặn.

Trong đoán quẻ, Bí có nghĩa là lúc tàn phai của thời kỳ tươi đẹp. Cái đẹp ở bề ngoài sẽ nhanh chóng tàn phai. Khi mặt trời khuất sau ngọn núi, sức mạnh của các tia nắng bị hạn chế, hàm ý những gì người ta thấy và biết chỉ là thiển cận, ở trước mắt – chẳng có sự nhìn xa trông rộng hay suy nghĩ sâu xa. Do đó, những sơ suất trong hoạch định và các lầm lẫn trong phán đoán sẽ trở nên phổ biến. Phải đặc biệt cẩn thận để tránh bị đánh lừa.

Quẻ 23: Sơn Địa Bác

Lạc dã. Tiêu điều. Đẽo gọt, lột cướp đi, không có lợi, rụng rớt, đến rồi lại đi, tản lạc, lạt lẽo nhau, xa lìa nhau, hoang vắng, buồn thảm. Lục thân băng thán chi tượng: tượng bà con thân thích xa lìa nhau.

Bác có nghĩa là đốn hạ, tách chẻ, tước, bào mòn hay róc, lột. Nếu nhìn vào quẻ, chúng ta sẽ thấy các hào âm đang chi phối sự đi lên, với chỉ còn lại có một hào dương. Có vẻ như lực dương đang lung lay và sắp đổ. Đơn quái trên, Cấn, tượng trưng cho các ngọn núi, còn đơn quái dưới, Khôn, tượng trưng cho đất. Ngọn núi cao sừng sững không thể nào chống đỡ nỗi sự xâm thực của gió và mưa, đang dần dần tiêu mòn và sụp đổ, rồi trở thành bình địa (đất bằng).

Trong đoán quẻ, Bàc mang ý nghĩa là vận may của bạn đang đến hồi sa sút nhất. Hành động duy nhất là nhẫn nại chịu đựng và chờ đến lúc thích hợp hơn.

Quẻ 24: Địa Lôi Phục

Phản dã. Tái hồi. Lại có, trở về, bên ngoài, phản phục. Sơn ngoại thanh sơn chi tượng: tượng ngoài núi lại còn có núi nữa.

Phục nghĩa là quay về chỗ gốc, chỗ ban đầu và bắt đầu một chu kỳ mới. Lực dương, tiêu biểu qua vạch liền dưới cùng, đang di chuyển đi lên từ đáy. Như vậy, lực dương đang bắt đầu vận động và vạn vật đang nhận được sức sống từ lực này, đồng thời dần dần thu được sức mạnh.

Trong đoán quẻ, Phục hàm ý mọi việc đang chuyển biến tốt đẹp hơn – như thể mùa xuân sắp đến. Mọi sự sẽ trở nên dần dần sáng sủa hơn.

Quẻ 25: Thiên Lôi Vô Vọng

Thiên tai dã. Xâm lấn. Tai vạ, lỗi bậy bạ, không lề lối, không quy củ, càn đại, chống đối, hứng chịu. Cương tự ngoại lai chi tượng: tượng kẻ mạnh từ ngoài đến.

Vô vọng nghĩa là thuận theo một cách tự nhiên, không mang chút cưỡng cầu hay bắt buộc nào. Càn, đơn quái trên, tượng trưng cho trời, còn đơn quái dưới, Chấn, tiêu biểu cho sấm. Càn cũng có ý chỉ tác động, lực đẩy. Vô vọng tiêu biểu cho sự vận động trong quỹ đạo theo con đường của trời, tức các qui luật của tự nhiên; do đó mà có bốn mùa rõ rệt và vạn vật tăng trưởng cũng như phát dục một cách tự nhiên. Trong đoán quẻ, Vô vọng có nghĩa rằng đây là lúc hãy dể mọi vật đi theo chiều hướng tự nhiên của chúng – hãy buông bỏ. Đừng hành động tích cực, nhưng cũng không né tránh, lười nhác mà không làm những gì tất phải làm, vẫn phải hoàn thành các trách nhiệm.

Quẻ 26: Sơn Thiên Đại Súc

Tụ dã. Tích tụ. Chứa tụ, súc tích, lắng tụ một chỗ, dự trữ, đựng, để dành. Đồng loại hoan hội chi tượng: đồng loại hội họp vui vẻ, cục bộ.

Đại súc nghĩa là tích chứa, tiết kiệm hay cất trữ. Nó cũng có nghĩa là sự tràn đầy, phong phú hay dồi dào. Quẻ cũng hàm ý sự ngưng nghỉ và chờ đợi cho đến khi đầy đủ trước khi chính thức hành động. Đơn quái trên, Cấn, mang ý nghĩa bất động, đứng yên hay nghỉ ngơi. Đơn quái dưới, Càn, hàm chỉ sức mạnh và sự tiến về phía. 

Tượng quẻ là sức bành trướng của Càn đang tàn ẩn trong quái Cấn là núi, khí trời là dương lực còn tích trữ, nun nén trong núi. Tượng trưng cho người tích được nội lực, tài trí để gây dựng sự nghiệp hiển hách.

Quẻ 27: Sơn Lôi Di

Dưỡng dã. Dung dưỡng. Chăm lo, tu bổ, thêm, ăn uống, bổ dưỡng, bồi dưỡng, ví như trời nuôi muôn vật, thánh nhân nuôi người. Phi long nhập uyên chi tượng: rồng vào vực nghỉ ngơi.

Di có nghĩa là đôi má và cũng có nghĩa là sự nuôi dưỡng. Nuôi dưỡng đến dưới hình thức sự bổ dưỡng của thức ăn, sự hấp thu kiến thức và học hỏi, sự phát triển của tư tưởng, và sự vun bồi.

Các hào nằm dưới cùng và trên cùng là những hào dương, giống như môi trên và môi dưới. Bốn hào âm ở giữa tượng trưng cho răng. Thức ăn tốt sẽ nuôi dưỡng cho cơ thể, nhưng thức ăn thiếu bổ dưỡng hay hư thối sẽ làm hại cơ thể. Tương tự như vậy đối với học vấn và tư tưởng, những gì được thu nhận phải chính đáng.

Trong đoán quẻ, nó có nghĩa rằng nếu người ta thận trọng và ý tứ trong ngôn từ, biết điều độ trong ăn uống, biết vun bồi bản thân, và đối xử với người khác cũng như xử lý công việc theo con đường chính đáng, khi đó vận may sẽ mở rộng. Bằng không, thất bại sẽ đến.

Quẻ 28: Trạch Phong Đại Quá

Họa dã. Cả quá. Cả quá ắt tai họa, quá mực thường, quá nhiều, giàu cương nghị ở trong. Nộn thảo kinh sương chi tượng: tượng cỏ non bị sương tuyết.

Đại Quá nghĩa là sự quá độ hay sức mạnh thái quá. Đơn quái trên là Đoài, tượng trưng cho ao chuôm hay đầm lầy, còn đơn quái dưới là Tốn, tiêu biểu cho cây cối. Cây bị ngập quá nhiều nước sẽ bị chết úng.

Trong đoán quẻ, có nghĩa rằng những trách nhiệm và gánh nặng của bạn rất nặng nề. Sức mạnh không cân xứng với ý chí — một tình huống quá sức gieo neo.

Quẻ 29: Thủy Vi Khảm

Hãm dã. Hãm hiểm. Hãm vào ở trong, xuyên sâu vào trong, đóng cửa lại, gập ghềnh, trắc trở, bắt buộc, kìm hãm, thắng. Khổ tận cam lai chi tượng: tượng hết khổ mới đến sướng.

Khảm nghĩa là khó khăn và nguy hiểm, đồng thời cũng tượng trưng cho nước. Nước ở trên lẫn ở dưới, điều đó muốn nói lên rằng không thể nào dò được độ nông sâu của nước. Mênh mông và chảy mãi không ngừng, hòa vào nhau rồi lại chảy đi — hình ảnh này nói lên sự nguy hiểm trùng trùng. Bị chết đuôi là điều có thể xảy ra.

Trong đoán quẻ, Khảm hàm ý vận hội của bạn đang cực kỳ xấu, như thể đang bị lôi vào cảnh rối bù, tiến hay lui cũng đều gặp nguy hiểm.

Quẻ 30: Hỏa Vi Ly

Lệ dã. Sáng chói. Sáng sủa, trống trải, trống trơn, tỏa ra, bám vào, phụ bám, phô trương ra ngoài. Môn hộ bất ninh chi tượng: tượng nhà cửa không yên.

Ly nghĩa là tươi sáng, rực rỡ, đẹp đẽ, tượng trưng cho mặt trời và lửa. Tượng của quẻ có ý nói một mặt trời vừa mọc và một mặt trời khác lập tức hiện ra chiếu sáng khắp vạn vật, giúp mọi vật sinh sôi, nảy nở và sum sê, cũng như khiến cảnh sắc đẹp đẽ xuất hiện. Trong đoán quẻ, nó có nghĩa là mặt trời đang mọc lên cao, mọi việc sẽ diễn ra êm đẹp đôi với người thành thật và cương trực. Nhưng đối với kẻ ương bướng và những người thiếu thành thật, thiếu công chính, thất bại là điều chắc chắn.

Quẻ 31: Trạch Sơn Hàm

Cảm dã. Thụ cảm. Cảm xúc, thọ nhận, cảm ứng, nghĩ đến, nghe thấy, xúc động. Nam nữ giao cảm chi tượng: tượng nam nữ có tình ý, tình yêu

Hàm nghĩa là cảm nhận và phản ứng – ảnh hưởng hỗ tương. Vạn sự vạn vật trên đời này đều có những cảm xúc hỗ tương hoặc những xung động đồng cảm với nhau, phản ứng hỗ tương về mặt cảm xúc mà hiển hiện nhất chính là giữa nam và nữ.

Đơn quái trên, Đoài, tượng trưng cho thiếu nữ, còn đơn quái dưới, Cấn, tượng trưng cho thanh thiếu niên. Người nam trẻ ở bên dưới người nữ trẻ — có sự tiếp xúc và phản ứng.

Đoài cũng tiêu biểu cho niềm vui và hạnh phúc, trong khi cấn tượng trưng cho ngừng nghỉ và yên tĩnh.

Do đó, toàn quẻ tượng trưng cho bình an và yên tịnh xuất phát từ sự hài lòng, kết quả của hạnh phúc hay vui vẻ.

Quẻ 32: Lôi Phong Hằng

Cửu dã. Trường cửu. Lâu dài, chậm chạp, đạo lâu bền như vợ chồng, kéo dài câu chuyện, thâm giao, nghĩa cố tri, xưa, cũ.

Hằng nghĩa là lâu bền và bất biến. Đơn quái trên là Chấn, tượng trưng cho con trai trưởng, trong khi đơn quái dưới là Tốn, tượng trưng cho con gái trưởng. Nam đang trong vị trí bên trên nữ, có nghĩa là hôn nhân, hòa hiệp. Đối với các đôi vợ chồng, có nghĩa rằng con đường hôn nhân đó bền chặt đến răng long đầu bạc. Nên duy trì tình trạng hiện tại và tránh các kế hoạch mới. Nhờ vậy, có thể đạt được vận may lâu dài và thoát khỏi ưu phiền.

Quẻ 33: Thiên Sơn Độn

Thoái dã. Ẩn trá. Lui, ẩn khuất, tránh đời, lừa dối, trá hình, có ý trốn tránh, trốn cái mặt thấy cái lưng. Báo ẩn nam sơn chi tượng: tượng con báo ẩn ở núi nam.

Độn có nghĩa là thoái bộ, rút lui, thoái ẩn hay bỏ trốn. Hai hào dưới cùng là các hào âm, còn bốn hào bên trẽn là các hào dương, có nghĩa rằng lực âm đang dần dần đi lên, trong khi lực dương đang dần dần nhường bước.

Trong đoán quẻ, điều đó có nghĩa rằng cơ đồ, gia sản đang bắt đầu sa sút, suy vi, và sự thoái ẩn cũng như việc không tiến tới trước nữa sẽ mang đến tốt lành.

Quẻ 34: Lôi Thiên Đại Tráng

Chí dã. Tự cường. Ý chí riêng, bụng nghĩ, hướng thượng, ý định, vượng sức, thịnh đại, trên cao, chót vót, lên trên, chí khí, có lập trường. Phượng tập đăng sơn chi tượng: tượng phượng đậu trên núi.

Đại tráng có nghĩa là lực dương đặc biệt đang mạnh mẽ, sung thịnh, hùng mạnh, cường tráng và oai nghiêm. Bôn hào dương dưới cùng đang đi lên, khiến hai hào âm trên cùng phải rút lui. Do đó, nó tượng trưng rằng người ta không thể ngăn chặn hay phong tỏa ảnh hưởng, sức mạnh và thanh thế được.

Đơn quái trên là Chấn, tượng trưng cho sấm, còn đơn quái dưới là Càn, tượng trưng cho trời. Sấm trên trời đang rền vang với sức mạnh, uy vũ và oai nghiêm không gì sánh nỗi.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng giàu sang và thịnh vượng đang ở ngay đây.

Nhưng sự thái quá hay thái độ cứng nhắc hoặc ngoan cố trong bất kỳ công việc nào cũng đều sẽ mang đến bất hạnh. Phải biết cẩn thận

Quẻ 35: Hỏa Địa Tấn

Tiến dã. Hiển hiện. Đi hoặc tới, tiến tới gần, theo mực thường, lửa đã hiện trên đất, trưng bày. Long kiến trình tường chi tượng: tượng rồng hiện điềm lành.

Tấn nghĩa là tiến bước, tấn tới, tiến bộ, đi lên.

Đơn quái trên là Ly, tượng trưng cho mặt trời, và đơn quái dưới là Khôn, tượng trưng cho đất. Mặt trời ở trên mặt đất như vào buổi sáng, lúc mặt trời mọc, tỏa ánh nắng rực rỡ của nó lên khắp thế giới. Lúc mặt trời mọc cũng là lúc bắt đầu một ngày mới và hàm ý sự bắt đầu của vận động và hành động. Ly cũng có nghĩa là tươi sáng, còn Khôn hàm ý sự nhượng bộ, phục tùng, tuân theo hay vâng lời. Như vậy, bằng việc qui phục sự tươi nhuận, sự phát triển hay tiến bộ rõ ràng là đạt được.

Trong chiêm quái, quẻ này có nghĩa rằng, giống như mặt trời mọc ở phương đông và vạn vật đang bắt đầu phát triển, vận hội của bạn đang mở ra, và tất cả sẽ diễn ra đúng như mong đợi.

Quẻ 36: Địa Hỏa Minh Di

Thương dã. Hại đau. Thương tích, bệnh hoạn, buồn lo, đau lòng, ánh sáng bị tổn thương. Kinh cức mãn đồ chi tượng: gai góc đầy đường.

Minh Di có nghĩa là sự tắt ngấm của ánh sáng hay vẻ rực rỡ. Đơn quái trên là Khôn tức đất, còn đơn quái dưới là Ly tức mặt trời. Mặt trời đã lặn xuống đất, tậo nên bóng tối.

Ly cũng tượng trưng cho lửa. Lửa từ xa đang tỏa ánh sáng của nó ra xa và rộng. Nhưng, trong trường hợp này, ý nghĩa ngược lại. Lửa đang ở dưới đất và do đó gợi ý sự chìm vào bóng tối.

Trong chiêm quái, quẻ có nghĩa rằng, giống như đêm tối, tương lai thật mù mờ, do đó phải nên hết sức cẩn thận cho đến khi bầu trời sáng tỏ vào buổi sáng. Hãy chờ đợi nhẫn nại cho đến khi ầnh sáng trở lại trước khi hành động hay tiến bước.

Quẻ 37: Phong Hỏa Gia Nhân

Đồng dã. Nảy nở. Người nhà, gia đinh, cùng gia đình, đồng chủng, đồng nghiệp, cùng xóm, sinh sôi, khai thác mở mang thêm. Khai hoa kết tử chi tượng: trổ bông sinh trái, nẩy mầm.

Gia nhân nghĩa là gia đình hay những người trong gia đình. Cũng có thể hiểu đó là sinh kế và tài sản của gia đình.

Điều bất biến của xã hội và con người là người nam thì ra ngoài làm việc hoặc chiến đấu, còn phụ nữ thì quán xuyến việc nhà.

Trong quẻ này, hào thứ năm (hào thứ hai tính từ trên xuống), là hào dương, chiếm vị trí trung tâm của đơn quái trên. Hào thứ hai tính từ dưới lên là hào âm và cũng chiếm vị trí chính giữa của đơn quái dưới. Bởi cả hai đều đắc vị (ở đúng vị trí của mình), nên quẻ có nghĩa là sự bền chặt, vững chãi của gia đình – người chồng thì làm việc bên ngoài, còn người vợ ở trong nhà quán xuyến việc gia đình.

Đơn quái trên Tốn tiêu biểu cho người con gái trưởng, trong khi đơn quái dưới là Ly tượng trưng cho người con gái thứ. Người lớn tuổi hơn đi trước người nhỏ tuổi, duy trì chuỗi trình tự thích hợp giữa người nhiều tuổi hơn và người nhỏ tuổi hơn.

Trong đoán quẻ, quẻ này có nghĩa là gia đình đang đi trên con đường thích hợp và thịnh vượng.

Quẻ 38: Hỏa Trạch Khuê

Quai dã. Hỗ trợ. Trái lìa, lìa xa, hai bên lợi dụng lẫn nhau, cơ biến quai xảo, như cung tên. Hồ giả hổ oai chi tượng: con hồ (cáo) nhờ oai con hổ.

Khuê tượng trưng cho sự bất hòa, chia rẽ, và kình chống nhau. Đơn quái Ly ở trên là lửa, đơn quái Đoài ở dưới là ao chuôm. Lửa thì cháy bốc lên và nước của ao chuôm thì chảy xuống dưới. Hai đơn quái này do đó đối lập và bất hòa nhau.

Trong đoán quẻ, quẻ này mang ý nghĩa các ý kiến không đạt được sự đồng tình với nhau và không dễ gì hoàn thành được bất cứ điều gì.

Quẻ 39: Thủy Sơn Kiển

Nạn dã. Trở ngại. Cản ngăn, chặn lại, chậm chạp, què, khó khăn. Bất năng tiến giả chi tượng: không năng đi.

Kiển tượng trưng cho sự khó khăn trong hành động và sự ngăn cản, ức chế. Nó cũng có nghĩa là hết sức gian nan, khốn khó, rắc rối, truân chuyên.

Đơn quái Khảm ở trên tượng trưng cho sự nguy hiểm, trong khi đơn quái cấn ở dưới tượng trưng cho sự ngừng chuyển động. Toàn quẻ do đó có nghĩa là sự bị đình lại trong nguy hiểm, chẳng có lối thoát. Khảm cũng tượng trưng cho nước và Cấn tượng trưng cho núi, có ý nói lên rằng đường đi đã bị bí lối với một bên là mặt nước hiểm nghèo, còn một bên là núi cao sừng sững.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng đang gặp phải tình trạng lưỡng nan, tiến không được mà lui cũng không xong. Trong trường hợp này, muôn vượt qua được thời điểm gian nan này phải nên cẩn thận.

Quẻ 40: Lôi Thủy Giải

Tán dã. Nơi nơi. Làm cho tan đi, như làm tan sự nguy hiểm, giải phóng, giải tán, loan truyền, tuyên truyền, phân phát, lưu thông, ban rải, ân xá. Lôi vũ tác giải chi tượng: tượng sấm động mưa bay.

Giải nghĩa là tháo tung, phóng thích, xua tan, làm vơi bớt sự gian nan và khó khăn.

Đơn quái trên Chấn tượng trứng cho sấm, còn đơn quái dưới Khảm tượng trưng cho mưa. Do đó, toàn quẻ có ý nói đến các cảm xúc bị dồn nén, chất chứa trong lòng đang bị mưa và sấm giũ sạch và xóa tan. Khảm tượng trưng cho mùa đông, còn Chấn tượng trưng cho mùa xuân. Cả hai cộng lại gợi ý cảnh đông tàn và xuân sang. Cái lạnh cắt da đang tan biến và mưa xuân bắt đầu rơi. Sự ấm áp đang lan tỏa khắp mặt đất và vạn vật vui tươi, được ban cho sức sống, được làm cho màu mỡ và phấn khởi.

Trong đoán quẻ, nó có nghĩa rằng những gian khổ đang tan dần; sự vận động mới có thể bắt đầu.

Quẻ 41: Sơn Trạch Tổn

Thất dã. Tổn hại. Hao mất, thua thiệt, bớt kém, bớt phần dưới cho phần trên là tổn hại. Phòng nhân ám toán chi tượng: tượng đề phòng sự ngầm hại, hao tổn.

Tổn nghĩa là hy sinh, giảm bớt, buông, làm yếu, thu nhỏ và thua, mất. Các hào ba, bốn và năm tính từ dưới lên là các hào âm.

Các hào âm nằm ở giữa các hào dương và có một hào chiếm ngôi vị thứ năm, ngôi vị chủ đạo, khiến cho lực dương phải suy yếu.

Trong quẻ Tổn, lực quay trở về này có ý muốn nói lên rằng tuy sự hy sinh là một loại tổn thất, nhưng sẽ giành được lợi ích hay tốt đẹp nào đó một khi phục hồi.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng tuy hiện thời đang có sự tổn thất hay thiệt hại, nhưng chẳng bao lâu tình hình sẽ được cân bằng trở lại và hanh thông.

Quẻ 42: Phong Lôi Ích

Ích dã. Tiến ích. Thêm được lợi, giúp dùm, tiếng dội xa, vượt lên, phóng mình tới. Hồng hộc xung tiêu chi tượng: chim hồng, chim hộc bay qua mây mù.

Ích có nghĩa là tăng, thêm, được lợi. Đơn quái Tốn ở trên tượng trưng cho gió, trong khi đơn quái Chấn ở dưới tượng trưng cho sấm. Sấm do lực dương sinh ra, trong khi lực âm làm chuyển động gió. Cả hai đều rất quan trọng và giúp cho vạn vật sinh sôi, nảy nở, phát triển, do đó quẻ mang ý nghĩa sự tăng thêm. Ý tưởng cơ bản của quẻ là sự tăng trường của mọi vật, đồng thời hàm ý cái tốt chung là ưu tiên, chứ không phải những quan tâm cá nhân. Giống như trong quẻ với gió chuyển dộng ở bên trên và sấm động ở bên dưới, vạn vật có thể hành động tích cực và hanh thông.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng với sự hăng hái hoàn toàn, bạn có thể mở ra con đường, do đó gặt hái được cái gì đó hữu lợi.

Quẻ 43: Trạch Thiên Quải

Quyết dã. Dứt khoát. Dứt hết, biên cương, ranh giới, thành phần, thành khoảnh, quyết định, quyết nghị, cổ phần, thôi, khai lề lối. Ích chi cực tắc quyết chi tượng: lợi đã cùng ắt thôi.

Quải nghĩa là vụng về, trệch hướng, rã rời. Trong quẻ này, hào âm (vạch đứt) nằm trên cùng, bên dưới là năm hào dương (các vạch liền). Nó không thể giao hòa với dương dược và đang phải chờ bị thay thế hoặc nhường bước cho lực dương.

Năm hào dương bên dưới, cộng với một hào âm lại không thể giao phối với nhau được nên tạo thành một tình cảnh thật lúng túng, khó xử. Từ cách nhìn này, lực dương đang sung thịnh. Chẳng bao lâu nó sẽ trở nên mạnh mẽ đến quá độ, đủ để gây ra các vấn nạn. Đó là tai họa theo sau sự càng lúc càng căng thẳng.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng sự quá sức hăng hái, sốt sắng có thể gây nên những tình huống khó xử, và gợi ý một tình huống nguy hiểm mà chỉ có thể tránh được bằng sự quyết tâm bất biến.

Quẻ 44: Thiên Phong Cấu

Ngộ dã. Tương ngộ. Gặp gỡ, cấu kết, liên kết, kết hợp, móc nối, mềm gặp cứng. Phong vân bất trắc chi tượng: gặp gỡ thình lình, ít khi.

Cấu nghĩa là giao hữu, giao tiếp, kết cặp, gặp gỡ. Hào dưới cùng là hào âm, tức vạch đứt, nằm dưới năm vạch liền, tức các hào dương.

Càn (Quẻ 1, Sáng tạo) được làm thành từ sáu vạch liền, tức sáu vạch dương. Bản chất cực độ của lực dương đang mang đến sự xuất hiện của lực âm.

Như vậy, sự có mặt của một hào âm bên dưới năm hào dương có nghĩa rằng sự giao phối giữa hai lực đang bắt đầu. Tượng của quẻ này là một cô gái đang chào mời bản thân mình với các nam nhân, và gợi ý rằng không nên hành động chỉ vì bị ảnh hưởng. Lực âm đang tăng lên và lực dương đang giảm xuống. Hãy đề phòng những gặp gỡ bất ngờ, tai nạn hay điều rủi ro.

Quẻ này gợi ý sự bắt đầu suy vi của vận may.

Quẻ 45: Trạch Địa Tụy

Tụ dã. Trưng tập. Nhóm họp, biểu tình, dồn đống, quần tụ nhau lại, kéo đến, kéo thành bầy. Long vân tế hội chi tượng: tượng rồng mây giao hội.

Tụy nghĩa là tập hợp, tụ tập hoặc nhóm lại với nhau. Đơn quái Khôn ở dưới tượng trưng cho số đông, cho sự vâng lời, phục tùng và đi theo.

Đơn quái Đoài ở trên tiêu biểu cho hạnh phúc và hài lòng. Như vậy, tượng của toàn quẻ là số đông đó đang vui vẻ, hạnh phúc và thuận tòng. Hào thứ năm, đếm từ dưới lên, là hào thượng chủ và hào thứ tư là hào thượng quản. Cả hai đều là hào dương. Bốn hào âm đang vây xung quanh hai hào dương và vâng lời chúng.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng tinh thần và tài vật lực của một người đang được tập hợp lại. Đây là quẻ rất cát tường.

Quẻ 46: Địa Phong Thăng

Tiến dã. Tiến thủ. Thăng tiến, trực chỉ, tiến mau, bay lên, vọt tới trước, bay lên không trung, thăng chức, thăng hà. Phù giao trực thượng chi tượng: chà đạp để ngoi lên trên.

Thăng nghĩa là tăng, lên cao, tiến tới.

Đơn quái trên là Khôn, tượng trưng cho đất, trong khi đơn quái dưới là Tốn, tượng trưng cho cây cối. Thế nên quẻ này trông giống như những hạt giống của cây xanh đang nảy mầm, sẵn sàng phá đất để chui lên, từ từ mọc thành cây cao. Cây mọc chậm, cho nên sự vận động đi lên của quẻ này cũng diễn ra từ từ và đều đều giống như bước lên thang, chứ không phải một sự nhảy vọt nhanh chóng lên trên. Khi hạt tăng trưởng, nó hấp thu các yếu tố từ môi trường của mình – các chất dinh dưỡng từ đất rồi mưa và ánh nắng. Nó thụ động.

Tương tự, bạn phải mềm mỏng và chờ đợi cơ hội tốt. Hãy cần cù và chăm chĩ, và khả năng cũng như tài năng của bạn sẽ được công nhận.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng đây chính là thời điểm để tài năng và năng lực nội tại của bạn phát triển đúng cách.

Quẻ 47: Trạch Thủy Khốn

Nguy dã. Nguy lo. Cùng quẫn, bị người làm ác, lo lắng, cùng khổ, mệt mỏi, nguy cấp, lo hiểm nạn. Thủ kỷ đãi thời chi tượng: tượng giữ mình đợi thời.

Khốn có nghĩa là khó khăn, nghịch cảnh, khổ đau, buồn bã, nghèo hèn và mệt mỏi. Đơn quái trên là Đoài tượng trưng cho ao, chuôm, còn đơn quái dưới là Khảm, tượng trưng cho nước. Nước bình thường sẽ tụ tập trong ao chuôm, nhưng trong quẻ này nước lại ở bên dưới ao chuôm, điều đó có nghĩa rằng nước đang chảy thoát ra ngoài, khiến ao chuôm bị khô cạn.

Những thứ cần thiết đang không có ở chung quanh. Tình hình thật nguy hiểm.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng đang ở giữa cảnh khó khăn và thiếu thốn. Tuy nhiên, có thể chờ đợi cho đến lúc hanh thông bằng cách lúc nào cũng giữ vững con đường chính trực, sự tự chủ và nhẫn nại.

Quẻ 48: Thủy Phong Tỉnh

Tịnh dã. Trầm lặng. Ở chỗ nào cứ ở yên chỗ đó, xuống sâu, vực thẳm có nước, dưới sâu, cái giếng. Càn Khôn sát phối chi tượng: Trời Đất phối hợp lại.

Tỉnh nghĩa là cái giếng chứa nước. Đơn quái Khảm ở trên tượng trưng cho nước, trong khi đơn quái Tốn ồ dưới tượng trưng cho gỗ.

Nó cũng có nghĩa là sự đi vào hay đến và sự đi. Lấy toàn quẻ mà xét thì tượng của quẻ này là một cái thùng gỗ đang múc nước ra khỏi giếng. Các nền văn hóa thị tộc cổ xưa đều xây dựng quanh một dòng nước chảy hay cái giếng. Giếng cho phép con người lấy nước mà không làm hao kiệt nguồn cung cấp. Nhưng con người phải sử dụng những biện pháp hiệu quả dể hưởng được ân phước mà giếng mang lại và có nguồn để giải cơn khát của mình.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng người ta phải có những hành vi thiện lành để tạo lợi ích cho người khác. Cùng lúc đó, người ta cũng cần phải giữ gìn sự an bình và yên tịnh giống như giếng.

Quẻ 49: Trạch Hỏa Cách

Cải dã. Cải biến. Bỏ lối cũ, cải cách, hoán cải, cách tuyệt, cánh chim thay lông. Thiên uyên huyền cách chi tượng: tượng vực trời xa thẳm.

Cách nghĩa là cách mạng, thay đổi, cải cách, cách tân.

Đơn quái trên là Đoài, tượng trưng cho ao, chuôm; đơn quái dưới, Ly, tượng trưng cho lửa. Lửa đang cháy trong đầm. Nếu lửa cháy dữ dội, nước trong ao chuôm sẽ khô. Nếu nước mênh mông hơn, lửa sẽ tắt ngấm. Do đó tượng của quẻ này là sự cải cách hay thay đổi. Ly cũng tượng trưng cho mặt trời.

Ớ đây quẻ đang tọa lạc ở hướng tây, hướng do Đoài đại diện. Do đó, quẻ có ý nghĩa là sự thay đổi từ ngày sang đêm. Thêm nữa, Ly tượng trưng cho mùa hè, còn Đoài tượng trưng cho mùa thu. Như vậy, quẻ này cũng hàm ý về sự thay đổi của mùa màng hay thời tiết. Cách là quá trình chuyển dịch từ cái cũ sang cái mới. Cuộc canh tân này cần tuân theo con đường thay đổi chính đáng.

Trong đoán quẻ, điều đó có nghĩa rằng tất cả các vấn đề của bản thân lẫn các vấn đề thuộc môi trường của người đó đang đến thời kỳ thay đổi.

Quẻ 50: Hỏa Phong Đỉnh

Định dã. Nung đúc. Đứng được, chậm đứng, trồng, nung nấu, rèn luyện, vững chắc, ước hẹn. Luyện dược thành đơn chi tượng: tượng luyện thuốc thành linh đan, có rèn luyện mới nên người. Kết hợp quẻ này vào cung vợ chồng là tốt, con cái mạnh khoẻ, gia đình yên ấm bền lâu.

Đỉnh có ý chỉ cái vạc hay đỉnh dùng trong tế lễ có hai tai quai và ba chân. Nếu nhìn vào hình thể của quẻ, chúng ta có thể thấy nó tương tự như một cái vạc ba chân. Hào âm dưới cùng là vạch đứt, tượng trưng cho chân vạc. Vạch đứt ở vị trí thứ năm tương tự như hai tai quai, còn vạch liền trên cùng thì tiêu biểu cho cái nắp.

Đơn quái trên là Ly tượng trưng cho lửa. Đơn quái dưới là Tốn tượng trưng cho gỗ. Toàn thể quẻ có tượng là ngọn lửa củi đang nấu thức ăn. Ba chân của cái Đỉnh tiêu biểu cho môi trường, của cải và sự thông minh – cả ba đều đang trong tình trạng ngăn nắp, an toàn và vững chắc. Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa là sự ổn định và hanh thông.

Quẻ 51: Lôi Vi Chấn

Động dã. Động dụng. Rung động, sợ hãi do chấn động, phấn phát, nổ vang, phấn khởi, chấn kinh. Trùng trùng chấn kinh chi tượng: khắp cùng dấy động.

Chấn nghĩa là gây phản ứng, gợi hứng, gây náo động và dấy động. Đơn quái trên lẫn đơn quái dưới đều là Chấn. Trong quẻ này, hai hào dương, nằm dưới cuối tại mỗi đơn quái đang bị ngăn chặn, kiềm chế bởi các hào âm. Bị ngăn chặn, nên sự phẫn nộ của lực dương dấy sinh. Bằng sự quyết tâm, lực dương đang cố gắng chọc thũng sự áp chế của âm và khuếch trương. Đơn quái Chấn tượng trưng cho sấm. Bởi cả hai đơn quái đều là Chấn, nên tượng của quẻ là sấm đang ở khắp nơi, dấy sinh và chuyển động.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng giờ đây đã đến lúc để dấy động, khắc phục các khó khăn, và hoàn thành các ước nguyện hay tham vọng.

Quẻ 52: Sơn Vi Cấn

Chỉ dã. Ngưng nghỉ. Ngăn giữ, ở, thôi, dừng lại, đậy lại, gói ghém, ngăn cấm, vừa đúng chỗ. Thủ cựu đợi thời chi tượng: giữ mức cũ đợi thời.

Cấn có nghĩa là sự bất động, nghỉ ngơi, đình chỉ, dừng lại và im lặng. Các đơn quái trên và dưới đều là Cấn, tượng trưng cho các ngọn núi.

Tượng của quẻ là các ngọn núi đang đứng yên và bất động.

Trong đoán quẻ, nếu gặp quẻ này, sự vật, hiện tượng cần dự trắc sẽ bị một trở lực đáng kể, nếu không sáng suốt khéo léo sẽ bị đóng băng, đứng yên.

Quẻ 53: Phong Sơn Tiệm

Tiến dã. Tuần tự. Từ từ, thong thả đến, lần lần, bò tới, chậm chạp, nhai nhỏ nuốt vào. Phúc lộc đồng lâm chi tượng: phúc lộc cùng đến.

Tiệm nghĩa là tiến tới hay tiến bộ theo trình tự, dần dần. Đơn quái trên là Tốn tượng trưng cho cây cối, trong khi đơn quái dưới là Cấn tượng trưng cho núi.

Xét chung, tượng của quẻ là hình ảnh của cây cối đang mọc trên một ngọn núi. Cây phát triển một cách chậm chạp và dần dần, do đó quẻ có ý muôn nói đến sự tăng tiến dần dần.

Trong đoán quẻ, nó có nghĩa rằng mọi sự đang dần dần mở rộng.

Trong Kinh Dịch, loài chim nước bay từ chỗ có nước đến đất liền, đến cây, rồi đến núi. Điều đó cũng tương tự như việc các cô gái theo chồng về những nơi xa lạ. Sự chuyển động trong cả hai trường hợp này đều mang lại thịnh vượng và hạnh phúc.

Quẻ 54: Lôi Trạch Quy Muội

Tai dã. Xôn xao. Tai nạn, rối ren, lôi thôi, nữ chi chung, gái lấy chồng. Ác quỷ vi sủng chi tượng: tượng ma quái làm rối.

Qui muội có nghĩa là cô gái nhỏ lập gia đình trước cả chị gái của mình. Ớ Trung Quốc thời xưa, điều này vi phạm qui ước của xã hội và bị xem là không chính đáng.

Đơn quái trên, Chấn, tượng trưng cho người con trai trưởng, trong khi đơn quái dưới, Đoài, tượng trưng cho người con gái út, niềm vui, niềm thích thú.

Sự hợp nhất của người con gái nhỏ tuổi và người đàn ông lớn tuổi mà dựa trên những thôi thúc của dam mê cũng bị xem là vi phạm đạo đức xã hội.

Trong đoán quẻ, điều này tượng trưng cho sự vi phạm các qui ước hoặc đạo đức xã hội và những hành động dựa trên tình cảm. Vì vậy, vận rủi bất ngờ là điều khó tránh. Kết quả là người ta phải thật cẩn thận.

Quẻ 55: Lôi Hỏa Phong

Thịnh dã. Hòa mỹ. Thịnh đại, được mùa, nhiều người góp sức. Chí đồng đạo hợp chi tượng: tượng cùng đồng tâm hiệp lực.

Phong nghĩa là phong phú, dồi dào, đầy đủ và sung túc. Đơn quái trên Chấn tiêu biểu cho sự vận động trong khi đơn quái Ly ở dưới tiêu biểu cho sự rực rỡ và ánh sáng. Như vậy, quẻ mô tả một sự vận dộng trung thực và công khai. Trung thực và công khai trong mọi việc sẽ dẫn đến thành công và phát triển. Một khi thành công đã trở thành hiện thực, theo sau đó sẽ là sự sung túc và phong phú.

Chấn cũng tượng trưng cho sự uy nghiêm, đường bệ, thanh danh và lòng can đảm, còn Ly thì tượng trưng sự khôn ngoan và trí thông minh. Cộng lại với nhau thì sự khôn ngoan và sự gây kinh sợ mang lại sự uy nghi, hùng vĩ không gì sánh bằng.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng sự phát đạt, thịnh vượng cực độ đang trong tầm tay. Bởi mọi sự sau khi đã lên đến cực đỉnh thì sẽ suy, nên phải biết nghĩ đến đường hướng hành động để tránh sự đi xuống này.

Quẻ 56: Hỏa Sơn Lữ

Khách dã. Thứ yếu. Đỗ nhờ, khách, ở đậu, tạm trú, kê vào, gá vào, ký ngụ bên ngoài, tính cách lang thang, ít người thân, không chính. Ỷ nhân tác giá chi tượng: nhờ người mai mối.

Lữ nghĩa là sự đi xa, cuộc hành trình hoặc người sống lang bạt.

Đơn quái Ly ở trên tượng trưng cho lửa, trong khi đơn quái Cấn ở dưới tượng trưng cho núi. Cộng lại, toàn quẻ mô tả cảnh một ngọn lửa đang cháy giữa nơi hoang vu của một ngọn núi. Núi thì đứng yên và bất động. Nhưng lửa thì cháy lan từ nơi này sang nơi khác, liên tục di chuyển.

Trong trường hợp này, núi tượng trưng cho chuyến đi, còn lửa tượng trưng cho người lữ khách, người đang di chuyển và không ở yên tại bất cứ nơi nào hết.

Trong đoán quẻ, điều này giống như ai đó đang ngao du xa nhà khắp chốn. Trong tất cả các vấn đề, người này đang cảm thấy bơ vơ, lạc lỏng, cô độc và băn khoăn, lo lắng. Tượng là sự vất vả và lao động. Giống như một chuyến đi, vận hội thiếu sự ổn định. Trôi nổi, lang thang và bất ổn định trong cuộc sông, mọi việc đều đang diễn ra không đúng như mong đợi. cần phải thận trọng và tự chủ.

 

Quẻ 57: Phong Vi Tốn

Thuận dã. Thuận nhập. Theo lên theo xuống, theo tới theo lui, có sự giấu diếm ở trong. Âm dương thăng giáng chi tượng: khí âm dương lên xuống giao hợp.

Cả hai đơn quái trên và dưới đều là Tốn, tượng trưng cho gió. Nơi nào gió cũng đến được, mang đến ý nghĩa cho quẻ này là sự đến và đi. về mặt hình tượng, hào âm(vạch đứt) ở mỗi đơn quái đang chìm bên dưới hai hào dương (vạch liền). Lực âm đang thoái bộ hoặc rút xuống dưới một cách tiêu cực; nhưng trong trường hợp này, tuy các hào âm đã chìm xuống bên dưới, nhưng nó lại chẳng có nơi nào để rút lui.

Như vậy, quẻ này cũng có nghĩa là sự vâng lời và tuân phục. Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng người ta không thể hành động với tư cách người xướng xuất, lãnh đạo hay chỉ đạo được. Thay vào đó, người ta phải tiến bước như thể nương theo gió, tuân theo sự lãnh đạo của người khác, để cho tình huống tự phát triển một cách tự nhiên. Bằng cách này, người ta có thể đạt được lợi thế.

Quẻ 58: Trạch Vi Đoài

Duyệt dã. Hiện đẹp. Đẹp đẽ, ưa thích, vui hiện trên mặt, không buồn chán, cười nói, khuyết mẻ. Hỉ dật mi tu chi tượng: tượng vui hiện trên mặt, khẩu khí.

Đoài có nghĩa là vui vẻ hay hài lòng. Cả hai đơn quái trên và dưới đều là Đoài. Ớ mỗi đơn quái, hào âm đều đóng ở vị trị chủ đạo bên trên hai hào dương. Lực dương tiêu biểu cho sự vững chắc và cao quí, trong khi lực âm tượng trưng cho sự yếu mềm và thấp hèn. Bởi yếu mềm và thấp hèn lại được trọng vọng và đóng ở ngôi vị cao hơn sự cứng rắn và cao quí, nên dĩ nhiên dây chính là nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc và vui vẻ. Đoài tượng trưng cho ao chuôm. Ao chuôm thì làm ẩm và mang màu mỡ đến cho vạn vật, khiến chúng thích thú và vui vẻ.

Bởi cả hai đơn quái đều là Đoài, nên ý tưởng vui vẻ và sự làm tốt, làm giàu càng mang giá trị gấp đôi.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng bạn đang gặp hồi may mắn đầy vui vẻ và thích thú.

Quẻ 59: Phong Thủy Hoán

Tán dã. Ly tán. Lan ra tràn lan, tán thất, trốn đi xa, lánh xa, thất nhân tâm, hao bớt. Thủy ngộ phong tắc hoán tán chi tượng: tượng nước gặp gió thì phải tan, phải chạy.

Hoán có nghĩa là tan rã, giải tán, tan tác. Đơn quái trên là Tốn, tượng trưng cho gió, đơn quái dưới là Khảm, tượng trưng cho nước. Khi gió thổi, nước bị tan tác. Khảm cũng tiêu biểu cho mùa đông và băng tuyết, trong khi Tốn tượng trưng cho mùa xuân và gió. Như vậy, quẻ mô tả cảnh những cơn gió mùa xuân đang thổi tan cái lạnh cắt da và làm tan băng tuyết của mùa đông.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng vận rủi, khó khăn và gian khổ đang bắt đầu tan biến – sự bắt đầu của bành trướng và phát triển. Vận hội bắt đầu thay đổi và các gian nan đang tan dần nhưng cũng đừng quá dễ dãi, buông lỏng. Thất bại sẽ đến từ sự thiếu thận trọng, bất cẩn và quá phóng túng. Vận may to lớn đối với nghề nghiệp hay kinh doanh liên quan đến thuyền bè, công việc vận chuyển hoặc kinh doanh vận tải.

Những điều sau đây có thể xảy ra: một chuyến đi xa nhà, nhận được sự giúp dỡ của ai đó, hoặc sự thất bại do thiếu ý chí hay không kiên định.

Quẻ 60: Thủy Trạch Tiết

Chỉ dã. Giảm chế. Ngăn ngừa, tiết độ, kiềm chế, giảm bớt, chừng mực, nhiều thì tràn. Trạch thượng hữu thủy chi tượng: trên đầm có nước.

Tiết nghĩa là điều khiển, hạn chế và câu thúc.

Đơn quái Khảm ở trên tượng trưng cho nước, còn đơn quái dưới là Đoài, tượng trưng cho ao hồ. Tượng của quẻ là một cái chuôm đang đón nhận nước. Khi nhận quá nhiều nước, chuôm sẽ bị ngập đầy nước; nếu nhận quá ít nước, chuôm sẽ bị khô cạn.

Như vậy, khi đón nhận nước, chuôm cần phải có sự kiểm soát và quản lý. Tượng của quẻ giống như một cây tre. Theo thứ tự từ dưới lên, các hào một và hai là các hào dương (vạch liền), các hào ba và bốn là các hào âm (vạch đứt), hào năm là dương, và hào sáu là âm. Sự luân phiên này tương tự như những lóng cách đều trên thân tre, như vậy càng làm rõ ý tưởng đồng bộ hóa và điều khiển.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng người ta phải thực hiện bổn phận của mình, phải biết tự chủ và hài lòng với địa vị hiện tại. Mọi hành động đều phải vừa mức thì mới đạt kết quả, quy mô của đối tượng dự trắc nếu chưa có xu hướng phát triển sẽ bị thu hẹp lại, còn nếu khi gieo quẻ đối tượng dự trắc có chiều hướng mở rộng thì hãy cẩn thận Tiết còn có hình ảnh giọt nước tràn ly.

Quẻ 61: Phong Trạch Trung Phu

Tín dã. Trung thật. Tín thật, không ngờ vực, có uy tín cho người tin tưởng, tín ngưỡng, ở trong. Nhu tại nội nhi đắc trung chi tượng: tượng âm ở bên trong mà được giữa.

Trung phu nghĩa là ngay thẳng và thật thà. Đơn quái trên là Tốn tượng trưng cho gió, trong khi đơn quái dưới là Đoài, tượng trung cho ao hồ.

Hình tượng là gió đang thổi ngang qua mặt hồ, khiến cho nước trong hồ xao động thành những con sóng. Do vậy, điều này cũng giống như người trên đang đối xử với thuộc cấp của mình bằng sự tin cậy và thành thật, khiến họ tiến bước trong sự hòa hợp, đồng thời sẵn lòng thực hiện phận sự của mình và tuân phục. Đoài cũng tượng trưng cho niềm vui và sự thích thú, trong khi Tốn tiêu biểu cho sự vâng lời và tuân phục. Do đó, toàn quẻ mô tả sự hạnh phúc và phục tùng một cách ngoan ngoãn, hoàn toàn không có sự giả dối và giả vờ, nhạy cảm và biết nghĩ cho nhau.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng sự thành thật, ngay thẳng và tin tưởng khi tiến hành công việc sẽ có nghĩa là sự mở ra vận may và diễn tiến suôn sẻ.

Quẻ 62: Lôi Sơn Tiểu Quá

 Quá dã. Bất túc. Thiểu lý, thiểu não, hèn mọn, nhỏ nhặt, bẩn thỉu, thiếu cường lực. Thượng hạ truân chuyên chi tượng: trên dưới gian nan, vất vả, buồn thảm.

Tiểu quá có nghĩa là hơi quá độ, bất hòa hợp và rắc rối.

Các hào thứ ba và thứ tư từ dưới đếm lên là các hào dương. Các hào còn lại là những hào âm. Lực dương không đóng ở ngôi vị làm chủ. Thêm nữa, nó đang bị bao vây bởi lực âm và không thể nào phát huy được trọn vẹn vai trò, vì vậy có hơi gặp khó khăn. Ầm tiêu biểu việc nhỏ và dương tiêu biểu cho việc lớn. Hào giữa, hào chủ tại mỗi đơn quái, là hào âm. Do đó, điều này có ý nói việc nhỏ không xong thì chẳng hy vọng gì hoàn thành được đại sự. Hình tượng của quẻ có dáng vẻ hai người đang ngồi đâu lưng vào nhau, do đó gợi ý sự bất hòa.

Trong đoán quẻ, điều này ám chỉ rằng mọi việc sẽ không diễn ra suôn sẻ. Người ta cần giữ mình ở bên trong phạm vi, phận sự hay chuyên môn của mình, và đừng cố gắng bành trướng hay xông tới.

Quẻ 63: Thủy Hỏa Ký Tế

Hợp dã. Hiện hợp. Gặp nhau, cùng nhau, đã xong, việc xong, hiện thực, ích lợi nhỏ. Hanh tiểu giả chi tượng: việc nhỏ thì thành.

Ký Tế nghĩa là mọi sự đang hoàn tất hay đã hoàn tất — sau khi hoàn tất, hoàn thành. Lực dương tượng trưng cho số lẻ, và lực âm tượng trưng cho số chẵn. Các hào thay phiên nhau trong toàn quẻ, một dương (vạch liền) rồi một âm (vạch đứt). Mỗi hào đều ở đúng vị trí của mình, và hai lực đang nối tiếp qua lại với nhau. Đơn quái trên là Khảm tượng trưng cho người con trai thứ, trong khi đơn quái dưới là Ly tượng trưng cho người con gái thứ. Nam và nữ đều ở trong chỗ thích hợp của mình, nói lên sự liên kết phù hợp.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng giờ đây đã đến lúc thành công và tiếng tăm. Nhưng thời gian này sẽ không kéo dài lâu và người ta phải thận trọng đề phòng vận may suy tàn.

Quẻ 64: Hỏa Thủy Vị Tế

Thất dã. Thất cách. Thất bát, mất, thất bại, dở dang, chưa xong, nửa chừng. Ưu trung vọng hỷ chi tượng: tượng trong cái lo có cái mừng.

Vị tế nghĩa là trước khi hoàn tất, chưa hoàn thành, và trước khi có kết quả, kết cục hay kết thúc.

Đơn quái trên Ly tượng trưng cho lửa, trong khi đơn quái dưới Khảm tượng trưng cho nước. Lửa cháy bốc lên trên, còn nước chảy tràn xuống dưới. Nhưng ở đây lửa lại ở trên nước, nghĩa rằng cả nước lẫn lửa không thể hòa hợp với nhau hoặc tạo được lợi ích cho nhau. Do đó, chẳng có gì hoàn thành hay hoàn tất.

Trong đoán quẻ, điều này có nghĩa rằng vận hội giờ đây đang không được tốt đẹp cho lắm, nhưng sẽ dần dần thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn. từ từ, hãy hòa thuận cùng với mọi người, và vận may sẽ từ từ cải thiện. Sự khinh suất, liều lĩnh hay hấp tấp khi thực hiện các công việc sẽ dẫn đến thất bại. Những đầu tư hợp tác là cát tường.

CHỌN SIM THEO CON GIÁP

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Liên hệ

Hotline 1

08.1900.8198

Hotline 3

0963.131.131

Zalo - Viber: 0963.131.131

Làm việc 24/7
Tất cả các ngày trong tuần
(Quý khách vui lòng Đặt mua trên Web hoặc gọi điện trực tiếp)

Hotline khiếu nại dịch vụ, tư vấn phong thủy:
Chuyên gia Phong Thủy
 Huyền Đàn
Sim theo quẻ