HÌNH THỨC TAM THIÊN DỊCH SỐ

 HÌNH THỨC TAM THIÊN  DỊCH SỐ

 a/- Bố cục

Tam thiên dịch số gồm có 64 thức hệ chia ra làm 2 phần, mỗi phần có 32 thức hệ thành ra Thượng thiên kinh văn thuộc Dương và Hạ địa kinh văn thuộc Âm. 

Dương gồm có 4 quái chánh: Càn, Đoài, Tốn, Khảm. 

Âm gồm có 4 quái chánh: Ly, Cấn, Chấn, Khôn.

Mở đầu thượng thiên kinh văn gồm có 2 thức hệ: Càn  số 1 và Khôn số 16 theo vị trí càn khôn cận bên nhau trên Trung thiên đồ. Cuối Thượng kinh văn là 2 thức hệ Khảm r  số 56 và Ly a số 49 đúng với vị trí Khảm Ly cận bên nhau.

Mở đầu Hạ địa kinh văn bắt đầu 2 thức hệ  Hàm  b  số 31 và  Hằng  c số 32, đúng vị trí Đoài Trạch đối qua tâm với thức hệ Cấn Sơn, tạo thành thức hệ Hàm sồ 48 và Chấn Lôi đối qua tâm với Tốn Phong, tạo thành hệ thức Hằng só 36. Cuối Hạ địa kinh văn là 2 thức hệ Ký tế ? số 51 và Vị tế số 50 đúng với vị trí Khảm Thủy giao hoán với Ly Hỏa tạo thành.

Việc nầy khác hẳn với Tiên thiên đồ và Hậu thiên đồ Càn Khôn Ly Khảm đối nhau qua tâm biểu hiện sự phân ly, trong lúc Trung thiên đồ Càn Khôn Ly Khảm cận nhau từng đôi một, biểu hiện trạng thái giao hội. Mọi vật có thể vừa tương phản vừa tương thành, nhưng con người một chỉnh thể, một toàn đồ Âm Dương, tương hội đều hòa mới khỏe mạnh nếu bên thắng bên bại sẽ bất ổn phát sinh bệnh tật. Như nhiệt (Ly) thắng hàn (Khảm) bị hỏa vọng lên đầu, sanh nhức đầu, chóng mặt còn hàn (Khảm) thắng nhiệt (Ly) bị lạnh hạ thân sanh tiêu chảy suy yếu tì vị.

b/- Đặt tên cho Thức hệ

Kinh Dịch ngàn xưa thể theo Tam Tài (Thiên Địa Nhơn) Trong Tiên thiên đồ và Hậu thiên đồ đặt tên là Quẻ cho mỗi thức hệ, họ lấy Bát quái thượng hạ của Thức hệ làm họ như danh tánh Thiên hoả Đồng Nhân đầy đủ họ Thiên Hỏa với tên thức hệ Đồng Nhân với ý nghĩa “Đồng nhân giao vu” dừng lại ở chánh trị xã hội, nên họ cho rằng vùng đất ngoại ô Kinh thành nếu muốn đồng nhau, tìm người ở xa để liên hiệp, chớ thực sự giao là giao hội, chính hoả xà Kundalinê ở huyệt tiểu khổng (đốt xương cùng) được đủ điều kiện lên hợp với thần Vishnou ở huyệt thiên môn (Nê hoàn cung) nghĩa là quẻ Ly (Hỏa) hòa nhập với quẻ Càn (Thiên) lúc con người đạt đến trạng thái hạnh phúc toàn hảo nhứt, giao hội cùng vũ trụ, tha nhân, nên mới có tên họ THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN. Giao ở Tiểu thức hệ thượng cửu, ở bực Đồng nhân cao nhứt, hòa đồng siêu việt, cũng như thức hệ Hỏa thiên Đại Hữu  N  bị hạn chế ở việc sở hữu tài sản vật chất, rất thiếu sót, vì Đại Hữu là sở hữu tài sản tinh thần vĩ đại, ghi lại thành tựu quá trình công phu trãi nghiệm của hành giả hợp nhứt với vũ trụ mà mỗi tiểu thức hệ mô tả thành quả của mỗi chặng đường liên tục từ hạ đẳng công phu đến thượng đẳng công phu.

c/- Nhận xét Kinh Dịch qua 3 thiên đồ: Tiên-Trung-Hậu 

Tổ tiên ta đã sáng tạo ra Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, kế tiếp Lưỡng nghi (Âm Dương) sanh Tứ tượng, Tứ Tượng sanh Tam tài (Thiên Địa Nhơn) mới có Thiên sanh ư Tý, Địa trịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần để biến thành Thập nhị Địa chi, do đó Tý bắt đầu Thập nhị địa chi để đặt ra giờ, ngày, tháng và năm. Kế đó Dần là tháng đầu tiên của năm, ta gọi là tháng Giêng, Tam Tài sanh Bát quái liên hệ Bát phương. Phụ cận sanh ra tứ tượng nữa từ Lưỡng Nghi (HỏaThổ Kim Thủy) khi có thêm Mộc sinh động thể làm chủ tứ tượng trở thành Ngũ hành với 30 phụ Ngũ hành trở thành mạng của con người, song hành với Bát quái liên hệ thêm Thập Thiên can để tính thời gian của Nhơn sinh, phải trải qua chu kỳ 60 năm mới thành một nguyên giáp, và trở lại nữa, cứ thế mà xoay vần tuần hoàn, thành ra không chính xác phần nào thời gian tính, nên thường bị lẫn lộn nguyên giáp nầy với nguyên giáp kia, nhờ dương lịch xác định năm Thiên chúa giáng sinh mới chính xác.

Ba bộ kinh dịch Tiên, Trung, Hậu bị Tàu đoạt được Tiên và Hậu cho là quí báu lắm đem về san định lại thành kinh Dịch truyền bá cho tới nay rất huy hoàng. Tuy nhiên có nhiều đáp án không hoàn chỉnh trong Kinh Dịch của Tàu vì thiếu Trung Thiên địch số chưa thâu đoạt, do đã được tổ tiên chúng ta dấu giếm bí mật. Nhưng Tàu chỉ tính 6 hào trong quẻ qua Thể và Dụng thuộc Tiên thiên và Hậu Thiên mà thôi, còn phần Trung thiên mới chính là chìa khóa của đáp án hoàn bị liên hệ giữa Tiên và Hậu, dưới hình thức quẻ Diệc, lưu truyền riêng biệt trong thân tộc.

Chúng ta có 6 tiểu thức hệ (Hào của Tàu) tạo thành 2 bán thức hệ của Thức hệ như: Trong kinh Dịch có 3 thức hệ: Lôi thủy Giải, Thủy Sơn Kiển và Địa Thuần Khôn thuộc hướng Tây Nam.

Chúng ta nhận xét thức hệ Giải k “Lợi Tây Nam”, thức hệ Kiển  j “Lợi Tây Nam, bất lợi  Đông Bắc”, thức hệ Khôn Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng”. Còn Hậu thiên đồ quẻ Khôn (Đất) hướng Tây Nam, quẻ Cấn Đông Bắc.

Người Tàu Vương Bậc thời Tam quốc giải thích:”Tây Nam là đất bằng, Đông Bắc là núi non. Từ chỗ núi khó đi đến chỗ đất bằng, khó khăn sẽ hết, chớ từ đất bằng lên núi cùng đường hết lối đi”.

Còn Khổng vĩnh Đạt trong Chu dịch dẫn giải:” Tây Nam thuận vị hướng đất bằng dễ đi, Đông Bắc chỗ hiểm vị khó đi, vì chỗ trắc trở khó khăn càng bế tắc. Đi và ở phải hợp lý vậy!”

Trương thiện Văn trong Từ Điển Chu dịch giải thích:” Lợi cho việc đi về đất bằng Tây Nam, bất lợi cho việc đi về phía núi non Đông Bắc. Tây Nam tượng trưng cho đất bằng, Đông Bắc tượng trưng núi non. Lúc kiển nạn đều phải tránh khó khăn hiểm trở, cần hướng về đồng bằng, lợi ở Tây Nam, bất lợi ở Đông Bắc.

Các dịch giả Tàu dựa vào Hậu thiên đồ cho núi là hiểm trở rất bất hợp lý, vì Thức hệ Thủy Sơn Kiển hình tượng hóa nước ngập núi, khổ ải hơn đồng bằng, nhưng không phải là trở ngại đáng kể, vì người cổ đại cho núi có hang động là nhà tránh nước lụt ngập. Núi cung cấp trái cây, thực phẩm đùm bọc nuôi dưỡng, cho nên không cần lo ngại về núi, mà phải lo triền miên là nước, Người Việt cổ ngày xưa chống chỏi hàng năm với nước lụt ngập của sông, nên có thần thoại Sơn Tinh thắng Thủy Tinh, Kiển nạn được giải đáp hanh thông, mới có thức hệ Sơn Thủy Mông , để ca ngợi chiến công thần thánh nầy là thắng lợi bền chặc với Lợi Trinh chiến công.

Ở Hậu thiên đồ cũng như ở Trung thiên đồ thức hệ Khôn (Địa) cùng ở hướng Tây Nam, nhưng về Đông Bắc, 2 thức hệ nầy trái ngược nhau, vì Khôn ở Hậu thiên đồ đối chọi với Cấn (Sơn) và ở Trung thiên đồ đối chọi với Khảm (Thủy).

Do đó 3 thức hệ nầy không thể dựa vào Hậu thiên đồ để hiểu nghĩa hoàn toàn không chính xác. Chỉ dựa vào Trung thiên đồ mới sáng tỏ ý nghĩa thức hệ, cũng chỉ vì con người không ngại núi cao mà chi e sông sợ biển. Hơn nữa, lợi Tây Nam bất lợi Đông Bắc không phù hợp với người Tàu do họ xê dịch từ Tây Bắc sang Đông Bắc, như Tây Chu chuyển qua Đông Chu, các triều đại khác chuyển từ Tây An sang Trường An, Khai Phong sang Bắc Kinh. Đó là hành trình ngược  với các tiểu thức hệ của ba thức hệ Giải, Khôn, Kiển.

Trái lại, phù hợp với Việt Nam, Đông Bắc mới thực sự là bất lợi, vì đó là biển cả và cũng là hướng Tàu xâm lược Việt Nam. Thành ra chỉ có con đường sống Nam Tiến lúc đầu và Tây Nam tấn lúc sau. Việt sử đã chứng thực là từ Đông Bắc Hùng vương đã rút về Nam sau khi bị Sở chinh phục, và mở cuộc Nam Tiến đợt đầu về Đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, đợt nhì tiến về Tây Nam, đồng bằng Cửu Long Giang. Trong lúc tiến về phương Tây chiếm Lào, Miên với Trấn Biên Phủ và Trấn Ninh Phủ không phù hợp nên phải rút về.

Như vậy, con đường Tây Nam đắc bằng về sau nầy gia nhập khối Đông Nam Á, sẽ ở thế thuận lợi Liên Bang Đại Việt với các quốc gia nầy từ Miến Điện tới Đông Nam Hải của Biển Đông, với chánh thể mới Liên Bang Đại Việt quy tựu đuợc 6 thị tộc Bách Việt thoát khỏi nạn đồng hóa của Hán tộc, thành lập ra các tân quốc gia từ nguồn gốc Bách Việt cổ xưa.  

Hỏi đáp - Bình luận
THÔNG TIN LIÊN HỆ

Liên hệ

Hotline 1

079.220.2222

Hotline 2

0963.131.131

Zalo - Viber: 0963.131.131

Làm việc 24/7
Tất cả các ngày trong tuần
(Quý khách vui lòng Đặt mua trên Web hoặc gọi điện trực tiếp)

Hotline khiếu nại dịch vụ, tư vấn phong thủy:
Mr. Đàn 
Sim theo quẻ
Tìm sim năm sinh
Đơn đặt hàng gần đây
08x65xx5xxx

14/12/2018 02:27

My Le

012xxx45xxx

14/12/2018 02:26

Hưng

01x24x5xxxx

14/12/2018 02:26

Cảnh

08x54x6xxx

14/12/2018 02:26

Dung

01xx12xxxxx

14/12/2018 02:26

Huynh Mien

01x456xxxx

14/12/2018 02:26

Tuyet Suong

09x56xx5xxx

14/12/2018 02:25

Tran Thi Ngoc Mai

0166X895xxx

14/12/2018 02:23

Thanh Nga

09x212xxxx

14/12/2018 02:23

Du

012xxx45xxx

14/12/2018 02:22

Tran Thi Ngoc Mai

0x87x87xxx

14/12/2018 02:21

Du

01x24x5xxxx

14/12/2018 02:20

Tuấn Vũ

09x9825xxx

14/12/2018 02:18

Chiến

098x88xxxx

14/12/2018 02:16

Tuấn

01xx26xxxxx

14/12/2018 02:15

Tuấn Vũ

016x74x7xxx

14/12/2018 02:13

Nguyen quoc thanh

012xxx45xxx

14/12/2018 02:12

Lê Anh Dân

09x654xxxx

14/12/2018 02:11

Võ Thị Như Ý

09x574x6xxx

14/12/2018 02:10

Vinh

0926168xxx

14/12/2018 06:34

Vũ Thị Hồng Nhung